Lý luận phê bình
Nguyễn Công Trứ, một đỉnh cao văn hóa Việt
11/02/2022 09:43:05

Hôm ấy, nhà thơ Tố Hữu đã hướng về Hà Tĩnh vái dài và nói: “Tôi xin bái phục, nghìn lần bái phục cụ Nguyễn Công Trứ. Tôi giờ mới thật hiểu cụ. Thật là một người có một không hai. Tài đến rứa là cùng, khí phách đến rứa là cùng, đức độ làm quan đến rứa là cùng mà chơi nhởi cũng hay đến rứa là cùng…”.

 
 
 

Mùa hè năm 2000, nhà thơ Tố Hữu và phu nhân có một chuyến hành hương dài từ Hà Nội về Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Huế. Tại Vinh, ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Thương mại mới được điều về làm Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An đã tiếp riêng và mời cơm hai ông bà một cách trọng thị, thân tình. Tôi khi ấy là phóng viên thường trú báo Nhân Dân tại Nghệ Tĩnh, được mời đến cùng dự. Hôm ấy, nhà thơ Tố Hữu đã hướng về Hà Tĩnh vái dài và nói: “Tôi xin bái phục, nghìn lần bái phục cụ Nguyễn Công Trứ. Tôi giờ mới thật hiểu cụ. Thật là một người có một không hai. Tài đến rứa là cùng, khí phách đến rứa là cùng, đức độ làm quan đến rứa là cùng mà chơi nhởi cũng hay đến rứa là cùng…”.

Thế đấy, cái khoảng cách về thời gian và ý thức hệ đã làm cho chúng ta không dễ hiểu hết và đánh giá đúng giá trị của tiền nhân!

Tam lập gồm đủ

Người xưa quan niệm bậc thánh nhân quân tử phải là người có đủ hoặc noi theo tam lập. Sách Tả truyện viết: “Thái thượng hữu lập đức, kỳ thứ hữu lập công, kỳ thứ hữu lập ngôn” (Trước hết, cao nhất là thành tựu đạo đức, sau là làm nên công trạng, sau nữa là để lại lời hay được truyền tụng). Lập đức như cái cây, lập công như cái quả, lập ngôn như cái hạt để truyền lại đời sau.

Người ta làm một việc đã khó, Nguyễn Công Trứ gồm đủ tam lập.

Lập đức, còn có nghĩa là nêu gương về sự làm quan liêm khiết. Ông giữ chức tổng đốc nhiều tỉnh, thượng thư hai bộ…nhưng nhà vẫn thường nghèo như thuở nho sinh: “Ngày ba bữa, vỗ bụng rau bịch bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no/ Đêm năm canh, an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ”. Về hưu, ngoài lương hưu, không có gì hơn, nên được Tự Đức thưởng cho 170 quan tiền, bèn mở tiệc mời đồng liêu và bạn hữu chén sạch. Ông ghét nhất bọn quan dốt, quan tham: “Chuồn đội mũ mượn mầu đạo đức / Thịt hay ăn một cục tham si”.

Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ.

Về lập công, thì ông đã đánh đuổi quân Xiêm, đánh dẹp các cuộc bạo loạn, nổi dậy để ổn định chính trị; lập nên huyện Kim Sơn, Tiền Hải và một tổng của huyện Giao Thủy.

Về lập ngôn, ông để lại những áng văn chương bất hủ. Người Việt Nam, hầu như đều thuộc ít nhất câu thơ tuyên ngôn của ông: “Đã mang tiếng đứng trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. Chữ “danh” của Nguyễn Công Trứ không phải là học vị, chức quan mà là tài danh, là việc làm rạng danh đất nước.

Người mang cái tôi đi lừng lững giữa đời

Thời phong kiến, vua là trời. Không ai được quyền có cái tôi, chỉ có bổn phận của thần dân. Chỉ có Nguyễn Công Trứ là người ngất ngưởng, tự nhận mình là người tài giỏi, và dùng cái tài giỏi ấy để chơi với đời: “Trời đất cho ta một cái tài /Giắt lưng dành để tháng ngày chơi; Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông/ Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng…”. Nghìn xưa người tài không thiếu, nhưng coi cá nhân mình, coi cái tài của mình như một lực lượng riêng, một triều đình riêng như Nguyễn Công Trứ thì chưa từng có!

Ông có nhiều công trạng trong việc đánh giặc ngoại xâm, dẹp loạn, ổn định chính trị; trong khai khẩn đất đai, thủy lợi… dân gian còn nhớ. Lẽ xuất – xử, hành- tàng của nhà nho đơn giản là “tiến vi quan thoái vi sư”, được trọng dụng thì làm quan, không được trọng dụng thì làm thầy, lui nữa thì về ở ẩn. Chính trị xưa, vì thiên bảo vệ ngôi báu và lợi ích cục bộ, thường hay dùng bọn ác nhân vô đạo, hay thực thi gian trá, bạo tàn, nên ở ẩn là con đường mà những người biết liêm sỉ thường lựa chọn. Vì thế, mà người ta ca ngợi, tôn thờ ông Đào Tiềm hơn là ca ngợi những ông tể tướng giỏi như Quản Trọng, Vương An Thạch… Vì thế mà đêm dài trung cổ đã dài lại kéo dài thêm vì người có tài đức không được trọng dụng, người có tài đức thường hay thúc thủ.

Nguyễn Công Trứ không coi con đường ấy là con đường của mình. Ông vào đời cũng không theo kiểu xuất thế của nhà nho với phận sự của bầy tôi. Ông coi mọi việc đời, mọi việc trong vũ trụ, việc gì cũng là việc của mình: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự!”. Thông điệp từ cuộc đời của Nguyễn Công Trứ cho ta thấy: Mỗi người có trách nhiệm là một ông vua; và đã có trách nhiệm thì trách nhiệm ấy chính là ông vua của mình! Sở thích không hại đến ai, đấy chính là ông vua của mình, lẽ sống của mình!

Nguyễn Công Trứ có cái tôi phóng dật.

Nhưng ông còn một cái tôi khác, quan trọng hơn, là cái tôi trách nhiệm.

Năm Thiệu Trị thứ tư 1844, đang làm Tuần vũ An Giang, Nguyễn Công Trứ bị Nguyễn Công Nhàn vì đố kỵ, vu cáo Công Trứ chở thuyền gian, ngầm thu mua hàng cấm (sừng tê giác). Ông bị cách hết chức tước, bắt làm lính trơn sung vào đội quân tuần thú (giống như bộ đội biên phòng) ở Quảng Ngãi. Đến Quảng Ngãi, Tuần vũ tỉnh ấy thấy Nguyễn Công Trứ, nguyên mệnh quan triều đình, lại đã 65 tuổi rồi mà phải mặc áo ngắn, đội nón dấu, đeo dao tu thì rất ái ngại, định lấy đồ khác thay cho đồ lính, Nguyễn Công Trứ vội ngăn:

– Xin ngài cứ để vậy. Lúc làm Đại tướng tôi không lấy làm vinh, thì nay làm tên lính tôi cũng không lấy làm nhục. Người ta ở địa vị nào, có nghĩa vụ đối với địa vị ấy, làm lính mà không mang đồ ấy thì sao gọi là lính được!

Tượng đài Nguyễn Công Trứ làm bằng đồng, đặt tại sân chính của Trường THCS Nguyễn Công Trứ, quận Ba Đình, Hà Nội.

Tuần vũ Quảng Ngãi càng thêm bội phục, viết sớ tâu lên vua Thiệu Trị đề nghị xét lại vụ án, mới rõ Công Nhàn vu cáo. Vua lại cho Nguyễn Công Trứ làm Chủ sự Bộ Hình… Về hưu, năm Tự Đức 11 (1858) nghe tin Pháp nổ súng vào Đà Nẵng, ông còn xin cầm quân đánh Pháp!

Mọi thứ chức tước không phải phù phiếm nhưng là vật ngoại thân, là cái giả tạm. Tài năng, tấm lòng con người, trách nhiệm với cuộc sống mới là giá trị đích thực. Dù là việc lớn, việc bé, người có trách nhiệm đều phải tận lực thi hành. Đấy chính là bài học sâu sắc mà hành xử của Nguyễn Công Trứ để lại cho chúng ta như một di sản.

Người san bằng mọi giới hạn để con người và hạnh phúc cuộc sống lên ngôi

Thuyết tương đối của Anh-xtanh ra đời làm cho cơ học của Niu-tơn trở nên có giới hạn. Trong chừng mực nào đó, có thể coi Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ như Anh-xtanh trong đời sống xã hội Việt Nam khi phát hiện và đề cao giá trị cá nhân, quyền sống của con người.

Nguyễn Công Trứ coi con người là trung tâm của vũ trụ, là tối cao.

Thần thánh không thể ở trên con người, không có ý nghĩa gì nếu không đem lại sự chia sẻ, cảm thông, sự phục vụ đối với con người.

Có lần rượu say, Nguyễn Công Trứ qua miếu Long thần mời tượng thần cùng uống, say quá đổ rượu vào tượng và đánh cả thần. Sáng mai tỉnh dậy, ông làm bài thơ tạ lỗi dán ở miếu: “Hôm qua trời tối tới chơi đây/ Ðánh phải long thần mấy cẳng tay/ Khi tỉnh thời nào ai có dám/ Say!”.

Sư chùa làng Uy Viễn hay chữ; Nho Phật thường hạ bệ nhau. Sư có lần tự phụ trước anh học trò Củng: “Thuộc ba mươi sáu quyển kinh, chẳng thiên địa thánh thần nhưng khác tục!”. Công Trứ trả miếng: “Hay tám vạn tư mặc kệ, không quân thần phụ tử đếch ra người!”. Thần Phật đã thế, còn gì có thể ràng buộc, đè nén sức sống tự do của con người!

Xưa, các du tử, do biết đời, biết người đã từng kêu gọi con người hãy biết đốt đuốc chơi đêm. Nguyễn Công Trứ cổ xúy cho con người biết tìm lạc thú ở đời “Cuộc hành lạc vẫy vùng cho phỉ chí; Chơi xuân kẻo hết xuân đi”. Ông cho rằng, con người không biết tạo ra, không biết hưởng lạc thú ở đời thì dẫu sống nghìn năm cũng không có ý nghĩa. Ông xót xa cho những kẻ chỉ biết “tiền đếm, gạo lường” tầm thường vô vị. Mọi thứ đối với ông là tương đối. Cái tuyệt đối là giá trị bản thân. Ông lấy rất nhiều vợ lẽ. Khi hưu ở Đại Nài, ông lấy một cô 23 tuổi, và nói, 50 năm trước, mềnh cũng 23 tuổi như mụ mi (Tân nhân nhược thị lang niên vấn/ Ngũ thập niên tiền nhị thập tam). Ông lấy lẽ không vì chơi mà vì tình. Thuở học trò, đã có chuyến “Giang sơn một gánh giữa đồng” với cô đào Hiệu Thư người làng Cổ Đạm. Khi làm Tổng đốc Hải An (Hải Phòng, Quảng Yên), trong một lần tổ chức hát xướng ở dinh, Nguyễn Công Trứ tình cờ gặp lại Hiệu Thư. Ông Tổng đốc đang ngờ ngợ thì Hiệu Thư hát lên “Giang sơn một gánh giữa đồng/ Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ chăng” thì Tổng đốc liền làm bài thơ tặng:

Giăng xế nhưng mà cung chửa khuyết

Hoa tàn song lại nhị còn tươi

Chia đôi duyên nọ đà hơn một

Mà nét xuân kia vẹn cả mười…

Rồi lại cưới nàng làm vợ.

Đánh giá Nguyễn Công Trứ, Tổng đốc Hà Tĩnh – Hoàng Nho Nhã viết:

Sự nghiệp kinh nhân thiên hạ hữu

Phong lưu đáo lão thế gian vô!

(Sự nghiệp làm người thiên hạ sợ thì trong thiên hạ không ít, nhưng phong lưu đến già như Nguyễn Công Trứ thì trên đời không có ai như ông).

Người ta có thể gọi Nguyễn Công Trứ là một nhà nho, một nhà thơ tài tử, một ông quan thanh liêm, chính trực, có nhiều công trạng… nhưng đúng hơn, phải gọi ông là một nhà tư tưởng, một nhà nhân đạo chủ nghĩa. Sự nghiệp của ông, tư tưởng và cách sống của ông còn ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống hôm nay, đến việc xây dựng tinh thần và tính cách Việt.

 
Nguồn: https://vanvn.vn/ 
 
Các tin mới hơn
Nhà thơ, nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát: “Quê anh muối mặn giờ là quê em”(10/06/2022)
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: Chỉ có thơ làm lẽ phải thầm lặng(03/06/2022)
Biểu tượng đất trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư(01/06/2022)
Nét đẹp đời thường trong trang văn Lê Minh Khuê(25/05/2022)
Xung quanh tập thơ “Bức tranh quê” của Anh Thơ(20/05/2022)
Các tin cũ hơn
Cuộc chơi từ những biên giới ảo của thể loại(27/01/2022)
Xã hội đương thời trong tác phẩm tâm huyết nhất của Nhất Linh(20/01/2022)
17 tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật nhận tặng thưởng của Ban Bí thư(02/12/2021)
Quang Dũng: Đẹp mãi những mùa xanh xưa – Tiểu luận Nguyễn Đăng Điệp(29/11/2021)
Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp như một dụ ngôn về lịch sử và quá trình viết lại lịch sử(10/11/2021)
na
na
na
na
Chuyên mục nổi bật
na
na
na
na